Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Bác Hồ 3 lần thăm Đại học Bách khoa

Ngày 6 tháng 3 năm 1956, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên đã ra Nghị định số 147/NĐ về việc thành lập trường Đại học chuyên nghiệp Bách khoa có nhiệm vụ đào tạo cán bộ chuyên môn cho các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng...

Trải qua chặng đường gần 60 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo nên một trang sử dày dặn với những thành tích sáng chói, xứng đáng là cánh chim đầu đàn trong hệ thống giáo dục đại học nước nhà.

Là một trong những ngôi trường đầu tiên được thành lập sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội [...] ba lần vinh dự đón Bác về thăm đã trở thành những dấu son trong lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà trường.

Lần thứ nhất, Người đến thăm Trường vào ngày mồng Một Tết Nguyên đán năm 1958 mà không hề báo trước, giản dị như vị cha già đến thăm con cháu nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc. Sau khi chủ động đi thăm các nơi học tập và sinh hoạt của Trường, Người đã gặp gỡ, nói chuyện thân mật với cán bộ và sinh viên ngay tại nhà ở của sinh viên. Số người được gặp Bác không nhiều vì đa số đã về gia đình ăn Tết, chỉ còn lại những người không có điều kiện như sinh viên miền Nam, miền núi, vùng xa,.. phải ở lại ăn Tết tại Trường.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, Hiệu trưởng Tạ Quang Bưu đón Hồ Chủ tịch và
Chủ tịch Hatsi Lzi , Anbani, thăm Đại học Bách Khoa

Với tình cảm ấm áp của vị cha già đối với con cháu, Người đã hỏi thăm tình hình công tác, sinh hoạt, học tập của cán bộ và sinh viên. Người động viên cán bộ, sinh viên phấn đấu khắc phục khó khăn, gian khổ, đoàn kết thân ái giúp đỡ nhau học tập và công tác. Người đã ân cần căn dặn: “Giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận phải gắn với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, nhà trường phải gắn liền với xã hội”.

Sau ngày Bác Hồ đến thăm, Đảng ủy và chính quyền Nhà trường đã khẩn trương tổ chức cho cán bộ và sinh viên học tập, quán triệt những lời dạy của Bác vì đó là những nguyên lý, phương châm đào tạo giáo dục của Nhà trường xã hội chủ nghĩa. Đồng thời Trường đã phát động một đợt thi đua thực hiện lời Bác dặn, đẩy mạnh các hoạt động giảng dạy, học tập và xây dựng Nhà trường. Khi sinh viên khóa 1 lên năm thứ 3, Trường đứng trước rất nhiều khó khăn: thiếu trang biết bị thí nghiệm; thiếu thày giáo dạy chuyên môn, chuyên ngành, hướng dẫn đồ án môn học và đồ án tốt nghiệp. Vận dụng lời dạy của Bác, lãnh đạo nhà trường đã mạnh dạn đưa sinh viên xuống nhà máy, xí nghiệp,công trường thực tế sản xuất, vừa học vừa làm, làm luận án tốt nghiệp tại chỗ với những đề tài lấy ngay từ thực tiễn sản xuất. Sau hơn 2 năm, 633 sinh viên đã quay trở lại trường nhận bằng tốt nghiệp, cùng khoảng 200 sinh viên khóa 1 khác được cử đi Liên Xô kịp thời bổ sung đội ngũ giáo viên còn thiếu, tạo ra bước phát triển vượt bậc của Nhà trường.

Ngày 17/6/1960, Trường Đại học Bách khoa lại có vinh dự lớn được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm lần thứ hai cùng với Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Anbani do Chủ tịch Hatsi Lzi dẫn đầu. Bác bày tỏ niềm vui mừng khi thấy trường đã có những chuyển biến, tiến bộ rõ rệt, nhiều mặt hoạt động đã đi vào nề nếp.

Sau khi thăm hỏi tình hình học tập và công tác của cán bộ, sinh viên, Người đã căn dặn: “Học để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Thầy trò phải thi đua dạy tốt, học tốt”. Theo lời Bác dặn, toàn trường lại bước vào đợt sinh hoạt chính trị mới với nội dung “rèn luyện đạo đức, phẩm chất, xây dựng động cơ học tập đúng đắn!” Sau khóa 1, trường lại tiếp tục làm lễ tốt nghiệp cho khóa 2, 3. Gần hai nghìn kỹ sư trẻ tràn đầy nhiệt huyết hăng hái lên đường đi bất kỳ đâu, làm bất kỳ việc gì khi đất nước cần đến. Nhiều kỹ sư Bách khoa đã có mặt ở địa bàn miền núi, đi mở rộng Trường Sơn, nhập ngũ vào quân đội. Nhiều cựu sinh viên Bách khoa đã trở thành anh hùng, chiến sỹ thi đua toàn quân, không ít người trong số đó đã ngã xuống, công hiến cả tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của tổ quốc.

Ngày 11/3/1962, Trường Đại học Bách khoa lại có vinh dự lớn được đón Hồ Chủ tịch đến thăm trường lần thứ ba cùng với đoàn đại biểu Vương quốc Lào. Đông đảo cán bộ và sinh viên đã họp mặt trong Hội trường Bát giác để chào mừng Hồ Chủ tịch và đoàn đại biểu nước bạn đến thăm trường. Sau phần chào mừng trọng thể, Bác Hồ đã giành thời gian nói chuyện thân mật với cán bộ và sinh viên. Bác khen thầy trò Nhà trường trong mấy năm qua đã có nhiều cố gắng và tiến bộ. Bác nhắc nhở cán bộ và sinh viên toàn trường phải ra sức phấn đấu hơn nữa, phải làm cho Đại học Bách khoa thực sự vững mạnh, đào tạo thật nhiều cán bộ tốt, giỏi để kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, đi đầu trong công cuộc đấu tranh hoàn thành độc lập thống nhất là xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với đồng bào, chiến sĩ miền Nam anh hùng. Cuối cùng Bác căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa. Phải nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Phải có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể, kỷ luật và ra sức học tập nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật”.

Những lời dặn của Bác đã trở thành phương châm chỉ đạo, giúp Đại học Bách khoa đi đúng hướng trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, vững vàng, tự tin trước mọi thử thách, giữ vững vai trò của một trong những con chim đầu đàn của ngành giáo dục Việt Nam.

Từ một mái trường mà giảng đường, phòng thí nghiệm ban đầu chỉ đơn sơ tranh tre, nứa lá, đội ngũ vỏn vẹn chỉ có 50 giáo viên và hơn 1000 sinh viên, hôm nay, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã trở thành một trong những trường đại học hàng đầu của Việt nam, một trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chật lượng cao được nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Hiện nay, độ ngũ cán bộ của Nhà trường có 2121 người, với 1300 giảng viên, trong đó có 42 Nhà giáo giáo nhân dân và Nhà giáo ưu tú; 222 Giáo sư và Phó giáo sư; 655 Tiến sỹ. Đây là đội ngũ cán bộ có uy tín trong chuyên môn, kinh nghiệm, nhiệt huyết trong hoạt động đào tạo và quản lý, trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã đào tạo cho Tổ quốc hơn 15 vạn kỹ sư, cử nhân, 8000 thạc sỹ và 700 tiến sỹ phục vụ trong Bộ Quốc phòng, công tác ở các ngành kinh tế, công nghiệp, bộ máy quản lý... Nhiều người đã trở thành các nhà khoa học đầu ngành, cán bộ quản lý cao cấp, các tướng lĩnh, các chủ doanh nghiệp và cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước...

-Hai DV-

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

Tiến sĩ Frank Proschan thăm Bảo tàng





Tiến sĩ Frank Proschan là một nhà nhân học/dân tộc học và là một chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO (2006-2015). Các nghiên cứu nhân học của ông đã đưa ông tới nhiều miền đất, từ Hoa Kỳ đến Đông Nam Á, và từ những đỉnh núi cao cho đến những vực sâu của nhiều chế độ quan liêu (Smithsonian Folkways). Năm 2007 ông đã có một bài viết về "Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên và hát giao duyên của người Khơ-mú" tại Hội thảo nhân học tại Bình Châu. Bài viết phân tích những luận điểm của luận án tiến sĩ về "Hát đối đáp nam nữ" của Nguyễn Văn Huyên tại Đại học Sorbonne năm 1934 và so sánh chúng với âm luật và đối luật trong hát đối đáp của người Khơ-mú. Bài viết chỉ ra vai trò của Nguyễn Văn Huyên không chỉ trong việc nghiên cứu dân tộc học/nhân học Việt Nam mà còn đi tiên phong trong nghiên cứu âm nhạc học Việt Nam. Bài viết có thể được tham khảo theo nguồn sau:

Frank Proschan (2010) "Hát đối nam nữ thanh niên Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên và hát giao duyên của người Khơ-Mú", Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, quyển 2, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 598-622.

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

Chuyến đi thực tế của lớp Bồi dưỡng kiến thức Bảo tồn - Bảo tàng

Chuyến đi thực tế của lớp Bồi dưỡng kiến thức Bảo tồn - Bảo tàng, Đại học Văn hóa Hà Nội tại Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên và Bảo tàng Chiến sĩ Cách mạng ngày 24/4/2016.

Bạn Bảo Nam Kyung viết: "Nhân ngày nghỉ, các anh chị từ các Bảo tàng khác nhau đang học lớp bồi dưỡng kiến thức Bảo tồn - Bảo tàng tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã đi thực tế tại Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên và Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt và tù đày.
Cảm ơn các anh chị đã cho em đi thực tế, giúp em học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm bổ ích từ các anh chị sau chuyến đi này. Chúc các anh chị thật nhiều sức khỏe và hoàn thành khóa học thật tốt."


Một vài tấm ảnh do các bạn học viên chụp trong chuyến đi tại Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên:






Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

Để môi trường lễ hội truyền thống không bị méo mó

(Moitruong.net.vn) – Mùa xuân là mùa của các lễ hội được tổ chức khắp nơi trên cả nước với ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, môi trường lễ hội chính là nơi giúp các cộng đồng bảo tồn và phát huy những truyền thống văn hóa một cách tốt nhất. Tuy nhiên, trong thời gian qua, tình trạng “thương mại hóa” kéo theo không ít những hiện tượng thiếu lành mạnh khiến nhiều lễ hội đang mất dần bản sắc. Trước thực tế này, việc khôi phục, bảo tồn và tổ chức tốt các hoạt động lễ hội đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Để tìm hiểu những giá trị văn hóa của các lễ hội, tạp chí Môi trường & Cuộc sống đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Ủy viên Hội đồng di sản văn hoá Quốc gia, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu & phát huy giá trị di sản văn hóa, Hội Di sản văn hóa Việt Nam. 
MT&CS: Xin chào PGS.TS Nguyễn Văn Huy, xin được hỏi ông, mùa lễ hội xuân năm nay ông có tham gia lễ hội nào chưa? Và ông nhận định thế nào về việc khôi phục lễ hội truyền thống hiện nay? 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Rất may mắn trong đầu xuân năm nay tôi đi được rất nhiều lễ hội. Có thể kể như lễ hội đình Lưu Xá, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Ở đây, không khí lễ hội rất nhộn nhịp, tôi thấy các tầng lớp nhân dân từ già đến trẻ, không phân biệt nam hay nữ, từ người dân bình thường đến cán bộ lãnh đạo ở địa phương đều rất hồ hởi, phẩn khởi tham gia lễ hội. Và mọi người rất có niềm tin và sự kính trọng vị thành hoàng làng của mình cho nên họ tổ chức rất quy củ. Hay lễ hội kéo song ở Hương Canh, Vĩnh Phúc. Lễ hội này có tính thi đấu, đối kháng rất căng thẳng nhưng câu chuyện lễ hội rất bình yên, người dân phấn khởi. Thông qua những lễ hội đó, có thể nói rằng lễ hội là một nét sinh hoạt văn hóa rất đẹp ở nông thôn Việt Nam và được giữ từ xưa cho đến hiện nay. Một số lễ hội truyền thống tốt đẹp đó đã được cộng đồng gìn giữ và được nhà nước công nhận là di sản văn hóa quốc gia.
PGS.TS Nguyễn Văn Huy – nguyên Ủy viên Hội đồng di sản văn hoá Quốc gia,
Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu & phát huy giá trị di sản văn hóa 
Về việc khôi phục lễ hội, chúng ta biết rằng, trước đây, có một thời gian dài do chiến tranh, do nhận thức đơn giản, nông cạn, đã có thời người ta cho lễ hội hay hội làng là lạc hậu, lãng phí thời gian, mê tín dị đoan nên bỏ, không cho tổ chức. Nhưng nhờ tư duy đổi mới 30 năm vừa qua mà các hội làng từ “bị lãng quên”  và “không phải là một di sản văn hóa”  thì nay được khôi phục lại. Theo tôi, việc khôi phục lại hội làng chính là một thành quả to lớn của công cuộc 30 năm đổi mới đất nước ta. 
MT&CS: Được biết ông là người có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc, vậy xin ông cho biết ý nghĩa của các lễ hội cũng như là các di sản văn hóa phi vật thể? 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Tôi muốn trở lại dùng từ “HỘI LÀNG” như trước đây thay cho từ lễ hội mới xuất hiện khoảng 30 năm gần đây. Gọi là hội làng sẽ gần gũi, thân thiết hơn khái niệm lễ hội nhiều. Khái niệm lễ hội bây giờ bị lạm dụng quá, cái gì cũng lễ hội cả, thành ra nhận thức lẫn lộn. Chúng ta biết rằng, hội làng có từ rất lâu và đâu đâu cũng có hội từ làng xóm của người Kinh ở đồng bằng cho đến các làng bản ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Người ta có thể gọi là hội làng, hội đình hay lễ cúng bản, lễ cúng bến nước nhưng tất cả đều nằm trong phạm trù hội làng. Và với phạm trù này, niềm tin của con người, của cộng đồng thể hiện rất rõ, đó là một niềm tin tâm linh thành kính với các vị thánh, vị thần bảo hộ cho làng.  Khi tổ chức và thực hành hội làng thì những phong tục tập quán, những nghi lễ, tập tục từ xưa để lại chính là một phương thức củng cố cách tổ chức xã hội, làm cho xã hội đi vào nền nếp, kỷ luật, kỷ cương; từ kính trọng vị thành hoàng đến tôn trọng các quan hệ trên dưới trong làng, trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ gia đình, làng xóm, bạn hữu… Ở một phương hiện nào đó, hội làng chính là một trường học để rèn luyện những con người biết cách chung sống với nhau trong một cộng đồng. Thế hệ trước rèn dũa thế hệ sau vì chính mình, vì cộng đồng của mình và vì con cháu trong tương lai. Đó chính là giá trị của hội làng, của những lễ hội truyền thống cũng như là các di sản văn hóa phi vật thể. 
MT&CS: Thưa ông thời gian gần đây, chúng ta thấy rất nhiều lễ hội đang bị thương mại hóa và những hành vi không đẹp diễn ra nhiều hơn trong lễ hội. Trước tình trạng một địa phương đã tổ chức thêm nhiều phiên bản lễ hội dân gian đã được công nhận để kinh doanh kiếm lời, ví dụ như lễ hội chọi trâu hiện có 10 hội chọi trâu ở các nơi, vậy theo ông chúng ta nên ứng xử với vấn đề này như thế nào? 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Vừa qua Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có thông tư không cho phép tổ chức những lễ hội mới như lễ hội chọi trâu ở một số địa phương: Phúc Thọ (Hà Nội), Bảo Thắng (Lao Cai), Phú Sơn (Bắc Ninh). Những lễ hội này được cho là có tính thương mại, cờ bạc, bán thịt giá cao… Đây đúng là những lễ hội “nhái lại” hội chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Hai loại lễ hội này khác hẳn nhau. Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn, vốn là một hội làng truyền thống có từ lâu đời. Không thể đánh đồng chúng với nhau, cứ thấy lễ hội là giống nhau, là cho vào một rọ. Việc truyên truyền ý nghĩa của các lễ hội này như nhau, như một lễ hội truyền thống là không đúng. Cho nên việc dừng không cho phép tổ chức những lễ hội mới này trong thời điểm hiện nay là hợp lý.
Lễ hội chọi trâu ở huyện Phúc Thọ – Hà Nội
Tuy nhiên, tôi nghĩ cũng có những cách xử lý khác cần nghiên cứu cho thấu đáo. Chẳng hạn có thể coi thi chọi trâu là một hoạt động dịch vụ thể thao mới nhằm thu hút khách du lịch nội địa hay quốc tế. Ý nghĩa thuần túy thể thao, không gắn vào đó yếu tố tâm linh. Chọi trâu cũng giống như đua ngựa, đấu bò tót… Cách tổ chức phải mới, có kỷ cương, có luật chơi mới. Chẳng hạn:  một là tuyệt đối không được giết thịt dù là những con trâu thắng hay thua, phải biết yêu thương chúng, chăm sóc chúng cho mùa sau; hai là cách hạn chế cờ bạc, cá cược trong những cuộc đua này hoặc tổ chức như thế nào cho khoa học, hợp lý; ba là, đây là hoạt động thể thao, kinh doanh thì phải đóng thuế, các loại thuế… Tóm lại cần phải nghiên cứu kỹ câu chuyện này để ứng xử với những cái mới xuất hiện cho đúng, cho hợp lý. 
MT&CS: Dưới góc độ nhà nghiên cứu nhân học, theo ông cơ quan quản lý nhà nước làm thế nào để giữ được nét đẹp truyền thống của dân tộc? 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Tôi nghĩ rằng các lễ hội đặc biệt là hội làng có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân ở làng quê cũng như miền núi. Cho nên, ngành văn hóa cũng như các ngành, các cấp làm thế nào để khuyến khích tổ chức cho thật tốt. Không vì con số thống kê 7000-8000 hội làng mà sợ, mà ngao ngán. 
Nhiều cộng đồng rất nghèo, nhà nước có thể giúp đỡ, khuyến khích, hỗ trợ cho dân làng các trang thiết bị cho phù hợp, trùng tu, tôn tạo các không gian tổ chức hội. Con người là yếu tố quan trọng nhất. Hãy để cho chủ thể văn hóa tự tổ chức hội làng của mình, đừng can thiệp sâu và quy định quá nhiều. 
Và điều quan trọng, hãy gắng giữ quy mô, mức độ các hội ở cấp độ  làng, cấp độ xã, đừng cố nâng cấp thành hội cấp huyện, tỉnh hay khu vực… để thu hút du lịch hay khuyếch trương chính trị. Chúng ta làm như thế sẽ làm mất đi bản chất của các hội đó, làm ảnh hưởng trực tiếp chủ thể tham gia lễ hội. Việc nâng cấp hội làng chỉ nên tính toán ở một vài điểm cần thiết không nên đại trà, phải giữ lại hội làng cho các chủ thể làm việc và sống ở làng. Làm như vậy, tôi nghĩ các hội làng không bị biến tướng, không bị méo mó và phản ánh đúng nhu cầu của người dân.
MT&CS: Xin được cảm ơn những chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Văn Huy

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Bí quyết dạy con, giữ nếp nhà của phu nhân Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên

PNTĐ-Ngày 14/2/2016, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cụ Vi Kim Ngọc, những người con của cụ có tâm nguyện được chia sẻ kỷ niệm về mẹ mình trên báo PNTĐ... 
Cụ Vi Kim Ngọc là phu nhân của Bộ trưởng Bộ GD (giai đoạn 1946-1975) Nguyễn Văn Huyên (báo PNTĐ đã có bài viết về đại gia đình GS Nguyễn  Văn Huyên một lòng đi theo Đảng). Ngày 14/2/2016, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cụ Vi Kim Ngọc, những người con của cụ có tâm nguyện được chia sẻ kỷ niệm về mẹ mình trên báo PNTĐ, coi đây như nén tâm nhang dâng tặng người mẹ đã đi xa. Thấu hiểu đạo hiếu của con cháu với bậc sinh thành, báo PNTĐ tiếp tục có bài viết về cụ Vi Kim Ngọc và phương pháp dạy con, giữ nếp nhà rất quý báu… 
 
Giữ con bằng… thư tay
 
Cụ Vi Kim Ngọc là con gái của quan Tổng đốc Vi Văn Định. Năm 1936, tiểu thư gia đình quyền quý ấy đã kết duyên cùng chàng Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, người sau này là Bộ trưởng Bộ Giáo dục gần tròn 30 năm. 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, con trai út của cụ Vi Kim Ngọc hồi tưởng lại, thì mẹ ông có thói quen viết thư. Khi cần gửi gắm tâm sự với chồng, con, họ hàng hay khi muốn giáo dục con điều gì, mẹ ông đều viết thư. Những lá thư của cụ viết rất tình cảm, nhẹ nhàng nhưng thẳng thắn chỉ ra nhược điểm mà cụ mong các con cần sửa chữa. “Bây giờ, tôi thấy điều kiện liên lạc rất phát triển, internet, điện thoại đều sẵn có nhưng cha mẹ và con cái lại có phần xa cách nhau. Ngày trước, chúng tôi chưa bao giờ cảm thấy cô đơn, mất phương hướng chính là nhờ những lá thư của mẹ”.
 
Khi thì cụ Ngọc viết thư tâm sự mong các con thấu hiểu công sức bố mẹ mà học hành tiến bộ: “Chỉ có rèn luyện đạo đức, chăm chỉ học tập để trở thành con người hữu ích thì xã hội sẽ không bỏ qua các con ạ”. Có khi những lá thư lại nhẹ nhàng dặn con về cách ứng xử, kính trên nhường dưới. Khi con gái lớn Nguyễn Kim Nữ Hạnh du học ở Trung Quốc và đang là đối tượng được kết nạp vào Đảng, cụ Ngọc đã viết thư kể chuyện gia đình, sự tiến bộ của các em, họ hàng để con có nghị lực phấn đấu. Sợ con gái gặp khó khăn sẽ nản, trong một lá thư khác, cụ lại phân tích về sự vươn lên của mình. Cụ viết sau khi các con đủ lớn, cụ đã đi làm để theo kịp sự tiến bộ chung của xã hội. Cụ đã học bổ túc văn hóa hết lớp 5, lớp 7 rồi lớp 10 để nâng cao trình độ, rồi học tiếp trung cấp y sĩ, học ngoại ngữ tiếng Nga, Pháp…
 
Cụ Vi Kim Ngọc rất chú ý đến việc phát triển tâm sinh lý của con gái vì cụ có 3 người con gái. Năm 1961, cụ viết thư cho con gái Nữ Hạnh dặn dò: “Con người ta nhất định đến tuổi nào phải nảy nở tình yêu… Trong vấn đề này mẹ không ngăn cấm vì mẹ luôn mong ước hạnh phúc của từng con... Nếu các con lựa chọn được bạn tốt là tán thành thôi”. Khi con gái thứ Bích Hà bắt đầu vấn vương tình yêu, lo con còn ít tuổi chưa suy nghĩ thấu đáo, nhưng lại không muốn trực tiếp can thiệp, cụ tế nhị viết thư cho con gái lớn và dặn: “Vì mẹ ở xa quá, nếu chỉ lý thuyết suông không sát thực tế thì sẽ ra sao. Vậy con lựa lời căn dặn em, mẹ không ngăn cấm tìm hiểu nhưng người con gái phải giữ gìn không vì nể nang, không vì bồng bột mà quên mình…”.
 
Cụ Vi Kim Ngọc thời trẻ và các con
 
Những lá thư của cụ Ngọc, không chỉ gửi cho con lúc nhỏ, mà ngay cả khi con đã đủ lông đủ cánh bay xa, thậm chí bước vào tuổi trung niên. Năm 1986, con gái Bích Hà đã ở tuổi 46, cụ vẫn viết thư căn dặn: “Con luôn nhớ ý của mẹ để những lúc va vấp gặp phải những việc gập ghềnh là phải suy nghĩ cẩn thận, hành động thận trọng. Bản chất của con là con người chân thật, cởi mở, tính tình đó thực là quý nhưng ở đời muôn vàn khó khăn cho nên không thể dễ dàng với bản thân”.
 
Những lá thư viết tay của người mẹ đã trở thành chất keo gắn bó tình cảm mẹ con. Đến lượt các con cụ Ngọc, cũng đều dùng thư, nhật ký để giãi bày tâm tư cùng cha mẹ, lời lẽ thư viết rất tình cảm. Như lá thư của PGS Huy viết cho mẹ từ năm 1966: “Mẹ yêu quý của con, chỉ còn 3 giờ nữa là con lại phải trở lên khu sơ tán, phải xa Cậu và Hà Nội rồi.... Theo thói quen con chờ đón mẹ nhưng lại thất vọng cả, con sực nhớ mẹ đi sơ tán rồi. Vắng tiếng mẹ ở nhà con buồn quá, như vắng một cái gì lớn nhất trong lòng con...”.  
 
Giáo dục tình cảm gia đình-theo PGS.TS Huy, đã được mẹ ông truyền cho các con bằng một cách rất nhẹ nhàng như vậy.
 
Dạy các con gái biết thu vén gia đình
 
Đi lấy chồng, nhưng cụ Vi Kim Ngọc lại không ở bên nhà chồng. Dẫu vậy, cụ luôn biết  ứng xử, thân thiết gia đình nhà chồng bằng cái tâm hiếu thuận của mình. Trong một trang nhật ký, cụ từng tâm sự với bản thân và với chồng: “Tôi sẽ ăn ở hết bổn phận làm dâu con, làm em, làm chị. Tôi mong niềm vui hạnh phúc đó đẹp đẽ như tôi hằng mong. Đối với mẹ chồng, tôi yêu chồng tôi tất nhiên kính yêu mẹ…”. Cụ Ngọc đã trở thành mối dây gắn kết giữa các anh chị em trong nhà chồng.
 
Đó cũng là lý do vì sao, cụ Ngọc luôn dạy các con gái, ngoài sự nghiệp, còn phải biết chăm lo, vun vén nhà cửa. Với cụ, phụ nữ chính là ngọn lửa ấm làm nên hạnh phúc gia đình. Sau khi du học xa nhà hơn 10  năm, bà Kim Hạnh trở về với mẹ. Lúc đó, cụ nhìn thấy ở con gái có một số điểm “chưa được”. Phong cách bà Kim Hạnh hồi đó có phần xuề xòa, thiếu chăm chút bản thân ở thời kháng chiến chống chiến tranh phá hoại hay thời bao cấp. Ngay lập tức, cụ nhắc con: “Hạnh phải giữ gìn cho đẹp trước mặt cả chồng con. Ngay cả khi ở trong nhà cũng phải đẹp như lúc ra đường”. “Mẹ tôi thường giải thích: “Không phải mẹ chuộng hình thức nhưng thực chất qua cách ăn mặc cũng toát lên tư cách và trí tuệ của mình. Mẹ tôi rất ít áo quần nhưng bà biết giữ quần áo lúc nào cũng chỉnh tề lịch thiệp. Bà thường dặn con mình và các bạn nữ đồng nghiệp là đi làm dù áo quần thế nào cũng phải cho tươm tất, chỉ những đường gấp, nét vuốt phẳng cũng làm cho người ta tôn trọng mình. Điều này trong thời chiến không phải ai cũng như mẹ tôi gìn giữ phong cách thanh lịch ấy cả những lúc khó khăn nhất” - TS Nguyễn Kim Nữ Hiếu, nguyên Phó Giám đốc Quân y viện 108, con gái thứ của cụ Ngọc nhớ lại.
 
Cụ Ngọc chăm chút, giữ gìn nhà cửa rất sạch sẽ, gọn gàng. Khi đi tản cư, cả nhà chỉ ở trong một căn phòng nhỏ nhưng cụ vẫn sắp xếp kê bàn học cho con, rồi có bồ thúng đựng đồ chơi… Cụ chú tâm trong mọi việc, từ nấu cơm đến sắp cơm đầy đủ để khi mọi người vào mâm không phải đứng lên lấy thêm đồ dùng. Cụ dặn con gái phải sắp đặt món ăn trên mâm có màu sắc ngon miệng dù bữa cơm không có nhiều chả, giò.
 
Là phu nhân Bộ trưởng, cụ Ngọc còn có thêm trọng trách giúp chồng đối ngoại, nhất là khi hòa bình lập lại, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên được Chính phủ giao nhiệm vụ tiếp đón tại nhà riêng nhiều đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra Bắc hay các đoàn khách quốc tế. Vì thế, cụ cũng rất chú ý dạy con lễ nghi ngoại giao, cách ứng xử với khách. Mỗi lần tiếp khách, cụ thường gọi các con ra tiếp chuyện và giới thiệu con học và tốt nghiệp ở đâu, nay đang đảm đương nhiệm vụ gì. “Đó là cách cha mẹ chúng tôi giới thiệu để khách từ phương xa hiểu hơn về cuộc sống và xã hội ở miền Bắc qua đời sống một gia đình. Tôi hiểu rằng, nhà nước dành cho bộ - thứ trưởng được ở rộng hơn, có tiêu chuẩn chút ít bát đĩa tiện nghi là để làm đẹp Nhà nước. Cha mẹ tôi đã làm đúng những gì mà nhà nước đã giao phó chứ không phải coi đó là mục đích  hưởng thụ về vật chất cho cá nhân” - TS Nữ Hiếu tâm sự. 

Tôn trọng con dâu con rể
 
Có một điều mà các con cụ Ngọc luôn cảm kích chính là việc cụ luôn tôn trọng các con, nhất là trong lựa chọn hạnh phúc riêng. Là phu nhân Bộ trưởng nhưng cụ không có quan niệm môn đăng hộ đối, không nhìn về thành phần, giai cấp, địa vị xã hội hay hoàn cảnh kinh tế để chọn dâu, rể mà chỉ quan tâm đến tính cách, tư cách, phẩm chất, đạo đức người bạn đời tương lai của con.
 
Cụ Ngọc rất hiểu, con dâu, con rể chính là người sẽ gắn bó, đem lại hạnh phúc cho con mình nên mình cũng phải đối xử tốt và thương yêu dâu rể như con ruột. “Đó cũng là lý do vì sao, các con dâu, rể đều cảm phục mẹ và một lòng chăm lo cho gia đình chung, hiếu thuận với mẹ”- PGS.TS Huy chia sẻ.
 
Khi nghe tin con gái lớn Nữ Hạnh có người yêu là Hiền Nhân, cụ nhẹ nhàng tâm sự với chàng rể tương lai: “Mẹ thương các con của mẹ lắm Hiền Nhân ạ. Mẹ mong cuộc đời của các con mẹ đều được hạnh phúc, mà những chàng rể của mẹ đóng một vai trò quan trọng vào cuộc đời của các con gái mẹ”. Sau đó, đến lượt con gái thứ Bích Hà yêu người con trai Trương Văn Cầu, cụ lại khéo léo chia sẻ với chàng rể thứ hai: “Mẹ mong Cầu-Hà sống với nhau bình đẳng tôn trọng nhau, chung thủy với nhau, nâng niu giữ gìn tình yêu của hai con. Mẹ mong các con xây dựng gia đình hưởng hạnh phúc tuyệt vời”.
 
Đám cưới của TS Nữ Hiếu với GS Nguyễn Lân Dũng, cụ Ngọc vui  mừng gửi gắm: “Mẹ vui mừng thấy hai con yêu nhau, xây dựng cho nhau một tình yêu cao đẹp. Mẹ chúc tình yêu của hai con mãi mãi như những ngày đầu...”. Đối với con dâu út, cụ Ngọc lại căn dặn: “Nhà có phúc lấy được dâu hiền. Niềm tin của mẹ, vợ Huy sẽ là người vợ hiền dâu thảo của mẹ. Có mỗi một con trai, có một con dâu cho nên xấu tốt chỉ có một người. Cảnh già có con hiền dâu thảo bên cạnh là niềm hạnh phúc mẹ chờ đợi”. Trong cuốn nhật ký, cụ Ngọc còn cẩn thận ghi những ngày cưới của từng con và cả  những điều nhắc, những nhược điểm của từng đôi lứa để đảm bảo hạnh phúc cho từng cặp vợ chồng trẻ.
 
Khi cụ Ngọc qua đời, cháu  ngoại của cụ là anh Nguyễn Kim Hiền (nay là TS nghiên cứu về Thần học) đang ở bộ đội, đã trở về, đọc cho cả nhà nghe bức thư cụ gửi cho anh năm 1987. Trong thư, cụ thanh thản viết: “Bà không dám tự hào mãn nguyện, nhưng bà thấy có thể mỉm cười trước tuổi ngoài 70 này. Suốt cuộc đời bà tâm tâm niêm niệm làm điều tốt cho mình, cho người, trong tâm không có điều gì phải ân hận. Với gia đình, bà đã xây đắp từng viên gạch nhỏ đầu tiên… Cứ thế bà cần cù kiên trì tin tưởng, phấn khởi bằng mọi khả năng của mình xây đắp tổ ấm hạnh phúc”.
Hoàng Lan

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016

Đại gia đình trí thức một lòng theo Đảng

PNTĐ-Đó là đại gia đình GS Nguyễn Văn Huyên - Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong gần 30 năm, người đã có nhiều đóng góp rất tích cực vào thành tựu của nền giáo dục Việt Nam từ 1946-1975. 
GS Nguyễn Văn Huyên được Đảng và Nhà nước đánh giá là “một trong hai bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa xã hội chủ nghĩa”. Tiếp bước cha, 4 người con của GS Huyên đều trưởng thành, là những nhà trí thức hết lòng tin yêu Đảng, nỗ lực phục vụ đất nước và nhân dân. 
 
Không phải Đảng viên vẫn một lòng theo Đảng
 
Nguyễn Văn Huyên đỗ Tiến sĩ Văn khoa năm 1934 tại Pháp, sau đó là GS giảng dạy và nghiên cứu tại trường Bưởi, trường Viễn Đông Bác Cổ... GS đã có nhiều đóng góp quan trọng trong cuộc Cách mạng tháng 8/1945 khi cùng 3 nhà trí thức lớn gồm Ngụy Như Kon Tum, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Xiển tạo thành một nhóm 4 trí thức chủ động đánh điện đề nghị vua Bảo Đại thoái vị, trao chính quyền cho Việt Minh. Năm 1946, GS Huyên được cử là thành viên phái đoàn đàm phán về nền độc lập của đất nước tại hội nghị Phông - ten - nơ - blô và vinh dự tham gia tháp tùng nhiều hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước Pháp để mưu cầu nền hòa bình giữa hai dân tộc Việt - Pháp. Ông là 1 trong 14 vị Bộ trưởng trong Chính phủ Liên hiệp quốc dân (1946) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
 
Có một điều rất đặc biệt, dù có nhiều đóng góp cho đất nước được ghi nhận, bản thân GS Huyên cũng đã tự viết đơn xin vào Đảng nhưng cho đến cuối đời, GS vẫn… là người “ngoài Đảng”. PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, con trai út của GS hồi tưởng: “Năm 1960, Đảng ủy Bộ Giáo dục (GD) đã làm mọi thủ tục để kết nạp cha tôi vào Đảng nhưng vì ông là một cán bộ cao cấp nên trước khi kết nạp đã hỏi ý kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị. Sau đó, Hồ Chủ tịch đã gặp riêng cha tôi và nói: “Chú đứng ngoài Đảng sẽ có lợi hơn cho cách mạng””.
 
GS Nguyễn Văn Huyên (thứ 2 từ trái sang) tháp tùng Bác Hồ đến
thăm 1 lớp học phổ thông ở HN
 
Theo PGS.TS Huy, trong hoàn cảnh đất nước ta bấy giờ còn chia cắt hai miền, Bộ Chính trị muốn tạo nên một mặt trận đoàn kết, thống nhất, bao gồm cả người trong Đảng, ngoài Đảng và các Đảng phái khác nhau. Tuân thủ quyết định của Bác Hồ và Bộ Chính trị, GS Huyên đã làm “một người ngoài Đảng” nhưng, trên thực tế, Đảng chưa bao giờ coi GS là “người ngoài”. GS vẫn tham dự sinh hoạt Đảng, được là đại biểu mời trong các Đại hội Đảng toàn quốc. Chỉ khác, GS không đóng Đảng phí và tham gia biểu quyết mà thôi.
 
PGS.TS Nguyễn Kim Nữ Hiếu, con gái thứ của GS Nguyễn Văn Huyên kể: “Dù không phải là Đảng viên nhưng cha tôi lúc nào cũng trung thành với Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Bác Hồ. Tháng 7/1954, cha gửi thư cho tôi: “Nữ Hiếu yêu quý! Hôm nay bắt đầu ngừng bắn ở Đông Dương con ạ. Nhờ ơn Bác, hòa bình lại trở lại trên đất nước ta. Nước ta Độc lập, thống nhất từ đây”. Rồi cha dặn tôi phải cố gắng học tốt để xứng đáng với công ơn của Đảng”.
 
Năm 1958, trong một lá thư khác gửi các con, GS Huyên đã viết: “Cậu đối với Đảng hơn 10 năm công tác và được sự giáo dục rất nhiều nên trở thành người dính chặt với Đảng. Quanh cậu những người thân cận ngày nay đều là Đảng viên, là những người thành tâm vì Đảng, vì Tổ quốc, giúp cậu làm công tác lãnh đạo tốt, phục vụ Tổ quốc.
 
Cậu không cảm thấy mình có cái gì khác biệt giữa mình và Đảng”. Ngày 3/2/1975, nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đảng, như linh cảm trước khi qua đời, GS Nguyễn Văn Huyên đã gửi thư cho đồng chí Lê Duẩn: “Riêng cá nhân tôi, hôm nay vô cùng xúc động được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các đồng chí lãnh đạo Đảng đã giúp đỡ, giáo dục bản thân phát huy phần nhỏ bé của mình trong hàng ngũ nhà giáo đông đảo và ngày càng vững chắc. Từ một thanh niên, trước Cách mạng chỉ có tham vọng cho mình một vị trí trong một nền khoa học dân tộc, được Bác Hồ và Đảng tin cậy, thương yêu dìu dắt vào một con đường cách mạng vĩ đại của dân tộc, suốt 30 năm tôi được vinh dự phấn đấu trưởng thành trong ngành giáo dục, từ chỗ “Chia chữ” với đồng bào như Bác Hồ trìu mến dạy tôi cho đến lúc nhà trường phát triển vững mạnh như ngày nay dưới lá cờ vinh quang của Đảng”.

Góp công chấn hưng giáo dục nước nhà
 
Có thể nói, trong 30 năm, GS Huyên với tầm nhìn xa trông rộng, đã đưa ra nhiều quyết sách rất quan trọng để chấn hưng toàn diện GD nước nhà. GS đã có công rất lớn trong việc xây dựng nền quốc học nhân dân, xóa bỏ tình trạng 95% dân số mù chữ; tổ chức một mạng lưới trường học trên mọi vùng của miền Bắc. Thấu hiểu tầm quan trọng của GD, tại cuộc họp của Hội đồng giáo dục đặc biệt tháng 8/1949, GS đã nhấn mạnh: “Chính phủ nhận định trong năm vừa qua, mọi khả năng về nhân lực, vật lực và tài lực đã đặt vào các ngành khác nhiều hơn là cho giáo dục. Vì vậy giáo dục đã đi chậm nên cần phải định cho giáo dục một kế hoạch phát triển cho kịp thời”.
 
Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên (người thứ 3, từ trái), tháp tùng Bác Hồ
đến thăm lớp học tiếng Nga đầu tiên sau hòa bình ở Hà Nội (năm 1955)
 
Cách đây hơn 50 năm, vị Bộ trưởng bộ GD đã quan tâm đến giáo dục tư thục, dân lập vì GS hiểu, Chính phủ còn khó khăn sẽ không đủ khả năng mở đủ trường cho người dân. Nhưng, muốn khuyến khích giáo dục tư  thục phát triển thì Nhà nước cần có chính sách ưu đãi. Trong tờ trình về vấn đề phổ cập cấp I cho thiếu nhi năm 1956, GS Huyên khẳng định “Hầu hết chi phí cho phổ cập giáo dục đều dựa vào lực lượng nhân dân... Nhà nước sẽ cộng trợ thêm để đảm bảo sinh hoạt phí của giáo viên dân lập được lĩnh đầy đủ và đều đặn”. Cũng không phải đến bây giờ, vấn đề lương giáo viên còn thấp mới được nhìn nhận mà ngay từ năm 1950, Bộ GD đã có văn bản trình lên Hồ Chủ tịch về những giải pháp “Nâng đỡ cho cán bộ giáo dục về phương diện vật chất để gây cơ sở mới cho sự thực hiện chính sách GD”. Sau đó, Hồ Chủ tịch đã ban hành Sắc lệnh thi hành kể từ tháng 11/1950 về phụ cấp chuyên môn và phụ cấp chức vụ nhân viên giáo dục.
 
Tài năng của GS Huyên còn được thể hiện qua những quyết sách chiến lược mà tới nay vẫn đúng đắn. Năm 1949, Hội nghị GD đặc biệt đã nhất trí đặt tên ngành học Mẫu giáo, theo GS Huyên là để chuẩn bị cho các trẻ em từ 5 tuổi đến 7 tuổi vào tiểu học và giúp giảm vất vả cho người phụ nữ. GS Huyên cũng luôn khẳng định vai trò của GD Lịch sử và đã đề xuất lập Viện Sử học để biên soạn bộ Sử và khuyến khích những người yêu Sử học. Ngay từ những năm cuộc kháng chiến còn rất khó khăn trên Việt Bắc, trước khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc 4-5 năm, GS đã yêu cầu các cơ quan phải “sưu tầm và lưu giữ các tư liệu cho đến hết cuộc chiến tranh Việt - Pháp này vừa để viết sử vừa để sau này hậu thế bình phẩm”. GS còn quan tâm đến dạy ngoại ngữ và đề nghị Hội đồng Chính phủ quyết định dạy 4 thứ tiếng Nga, Hoa, Anh, Pháp trong chương trình phổ thông.
 
Khi phong trào xóa nạn mù chữ đã ít nhiều thành công, ngành GD do GS Huyên lãnh đạo đã tổ chức cải cách giáo dục lần thứ nhất. Hệ thống trường phổ thông 9 năm ra đời là một sáng tạo lớn. Bộ GD đã cho lập Ban tu thư để soạn SGK. Nhờ đó, các SGK từ lớp vỡ lòng, lớp 1 đến lớp 9 đã được biên soạn và xuất bản khá đầy đủ. Các giáo trình ĐH đều bằng tiếng Việt được phổ biến rộng rãi cho các SV và học hàm thụ. Nhờ thế mà một đội ngũ trí thức mới, lực lượng nòng cốt của các ngành, các lĩnh vực mau chóng được hình thành và phát triển.

Tiếp nối tâm nguyện của cha
 
Tiếp nối cha, những người con của GS Huyên khi lớn lên cũng đều nỗ lực học tập để mong được phụng sự đất nước. PGS.TS Nữ Hiếu đã trở thành người đầu tiên là con gái Bộ trưởng tình nguyện vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Khi đang học năm cuối của  ĐH Y Hà Nội bà đã xung phong nhập ngũ phục vụ quân đội. Năm 1971, bà kết hôn với giảng viên trẻ Nguyễn Lân Dũng, sau này là GS.TS, NGND, đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa X, XI, XII… Năm 1972, mặc dù đang mang thai con đầu lòng nhưng bà lại xung phong tham gia Đoàn 730B vào chiến trường Quảng Trị.
 
Có một giai đoạn, vì GS Huyên là người ngoài Đảng nên những người con của GS cũng gặp trở ngại khi kết nạp Đảng. GS Huyên đã khuyên các con càng phải cố gắng. Năm 1972, UB Khoa học xã hội Việt Nam nơi ông Huy công tác đã kết nạp ông vào Đảng. Sau đó, hai chị gái của ông cũng lần lượt trở thành Đảng viên. Không chỉ vậy, họ còn khẳng định được sự nghiệp vững chắc.
 
Trưởng nữ Nguyễn Kim Nữ Hạnh là kỹ sư Thông tin hữu tuyến đường sắt góp phần đảm bảo an toàn đường sắt trong thời chống chiến tranh phá hoại ác liệt của Mỹ. Không ham danh lợi, khi đang làm trưởng phòng kế hoạch trong một Ban thuộc Tổng cục Đường sắt, bà Hạnh đã tự nguyện xin về làm việc như một người thợ ở một trạm thông tin đường dài trong bối cảnh đổi mới khoa học kỹ thuật của ngành từ điện tử sang bán dẫn. Sau đó, bà trở thành trạm trưởng, rồi đội trưởng chỉ đạo thi công, quản lý chuyển đổi thiết bị mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ phụ trách 12 đơn vị sản xuất phục vụ ngành đường sắt điều hành sản xuất và chỉ huy chạy tàu trên 5 tuyến đường sắt Bắc Nam và các tuyến phía Bắc.
 
Thứ nữ Nguyễn Bích Hà là người đầu tiên trong số 4 chị em được nhận bằng Phó Tiến sĩ Hóa học tại Liên Xô năm 1972. Bà Nữ Hiếu nhận Tiến sĩ Y học năm 1995, sau đó là Phó Giám đốc Quân y viện 108, được nhận quân hàm Đại tá (1995), Uỷ viên Hội đồng Y học quân sự Bộ Quốc phòng. Thứ nam Nguyễn Văn Huy trở thành Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Năm 2000, Hội đồng văn hóa châu Á (Mỹ) đã trao giải thưởng John D.Rockerfeller III cho ông Huy vì những đóng góp phát triển giao lưu giữa các nhà khoa học Việt Nam với các nước trong việc bảo tồn văn hóa dân tộc.  
 
Bà Nữ Hiếu tâm sự: Trọn cuộc đời, cha tôi đã sống thanh liêm, chỉ biết phụng sự vì việc chung với tâm thế như của một Đảng viên Cộng sản luôn đau đáu trăn trở về nền độc lập của đất nước và dân trí của nhân dân. Anh chị em chúng tôi nay đều ở tuổi “thất thập cổ lai hy” luôn noi theo cha, một lòng vì nước, vì dân.

Hoàng Lan