Thứ Ba, 27 tháng 12, 2016

Lời cảm xúc của ông Nguyễn An Kiều

Mấy lời cảm xúc của ông Nguyễn An Kiều sau khi thăm BT Nguyễn Văn Huyên gửi qua email chúng tôi vừa nhận được.
Cảm ơn sự đón tiếp nhiệt tình của GS Nguyễn Văn Huy !
Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên được tổ chức khoa học, sắp xếp hợp lý theo từng giai đoạn ,từng nhân vật. Có những tư liệu gốc rất quý được bảo quản nguyên vẹn từ hơn nửa thế kỷ nay ,qua biết bao cuộc chiến tranh ,sự kiện làm xáo động xã hội ...
Các hiện vật đặt trong một không gian yên tĩnh, thoảng vang âm thanh những giai điệu nhạc êm dịu đưa tâm hồn trở về quá khứ lịch sử huy hoàng, vàng son xa xưa ...
Tôi khá bất ngờ khi thấy nổi lên khúc nhạc Boléro nổi tiếng của nhạc sĩ Pháp Maurice Ravel ( 1875-1937) , như cuộc đối thoại lưu luyến của các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng thay nhau nhắc lại chủ đề , viết riêng cho nghệ sĩ Isida Rubinstein biểu diễn ballet !
Rồi đến những giai điệu huyền ảo thời nền tân nhạc Việt đầu thế kỷ XX của Đặng Thế Phong ( đã theo học Trường Mỹ thuật Đông Dương) cũng như bản "Ngọc Lan " (1953) sang trọng, đầy vương vấn của cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước tài hoa ...
Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên là một địa chỉ văn hóa Việt Nam mọi người (Việt Nam và ngoại quốc) nên tới để hiểu thêm xã hội Việt Nam ngày trước, phong cách nghiên cứu say sưa , phương pháp làm việc đầy tâm huyết...của những trí thức Việt Nam, của nhà khoa học, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, một trong những người Việt Nam tài năng đầu tiên du học tại Pháp, mang lại vinh quang cho đất nước từ khi Việt Nam còn chưa được độc lập và vẫn đạt kết quả trong mọi hoàn cảnh khó khăn....
Chúng tôi rất mừng khi gập GS Nguyễn Văn Huy để tặng Bảo tàng bản Khải của cụ Tổ chúng tôi, Thái Tể Tuyền quận công Nguyễn Duy Thì (1572-1651) , đã ghi trong bộ "Đại Việt Sử ký toàn thư " của sử gia Ngô Sĩ Liên , bộ sử nổi tiếng được Giáo sư Nguyễn Văn Huyên nêu trong cuốn sách nghiên cứu của ông về nền văn minh dân tộc Việt Nam, hoàn thành năm 1939 và xuất bản năm 1944.
Cảm ơn GS Nguyễn Văn Huy và gia đình, những người con rất có hiếu, biết cách đền ơn đáp nghĩa Tổ tiên ,ông cha theo phong cách riêng, tế nhị, thông minh, khoa học, đầy trí tuệ ..., chẳng kém Bảo tàng các nước chúng tôi đã tới ....
Chắc chắn chúng tôi sẽ trở lại Bảo tàng để học hỏi thêm...
Nguyễn An Kiều và Nguyễn Thị Hoài An
( + 84 - 090 856 27 87 ) ankieunguyen@gmail.com

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

Rượu nếp cho Tết Đoan Ngọ


Chắc hẳn chúng ta đều đang khổ sở chống chọi với cái nóng hầm hập của mùa hè. Tết Đoan Ngọ sắp đến (5/5 âm lịch), thời điểm của khí dương lên tới đỉnh cao nhất của mùa hè và cũng là lúc khí âm đồng thời xuất hiện. Vào ngày lễ này, từ xưa người Việt có nhiều hoạt động để ngăn chặn bệnh tật và nét đặc sắc nhất là người ta tiến hành việc giết toàn bộ sâu bọ sống trong ruột bằng cách ăn những thứ trái cây như đào, mận, dưa, xoài,… hoặc rượu nếp, kê,… Không chỉ vậy, những người bán thực phẩm tin rằng nếu treo một gói ớt hoặc một bó xương rồng, hoặc lá dứa vào quầy hàng của mình thì sẽ tránh được tà ma làm nhiễm độc thức ăn. 

Qua nghiên cứu về Tết Đoan Ngọ của người Việt những năm 1930-1940, Nguyễn Văn Huyên kết luận “Tết Đoan Ngọ thực là lễ kỳ lạ nhất trong lịch sử của người Việt. Diễn ra ngay đúng giữa mùa kinh khủng nhất trong xứ này, nó được cử hành vì sự đe dọa thường xuyên của bệnh tật và chết chóc lởn vởn trên đầu mọi người. Nó tiếp tục củng cố thêm chuỗi lễ nghi được làm ngay từ khi mùa xuân kết thúc, để làm nguôi giận các thần trên trời. Do đó, Đoan Ngọ có tầm quan trọng hàng đầu trong tôn giáo dân gian nước Việt Nam, và việc phân tích nó là cực kỳ bổ ích cho việc nghiên cứu tất cả các thực hành ma thuật ít nhiều bắt nguồn từ đạo Lão." 

Tết Đoan Ngọ năm nay rơi vào ngày 9/6, các bạn nhớ mua trái cây và rượu nếp ăn cho bồi bổ sức khỏe nhé!

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Bác Hồ 3 lần thăm Đại học Bách khoa

Ngày 6 tháng 3 năm 1956, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên đã ra Nghị định số 147/NĐ về việc thành lập trường Đại học chuyên nghiệp Bách khoa có nhiệm vụ đào tạo cán bộ chuyên môn cho các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng...

Trải qua chặng đường gần 60 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo nên một trang sử dày dặn với những thành tích sáng chói, xứng đáng là cánh chim đầu đàn trong hệ thống giáo dục đại học nước nhà.

Là một trong những ngôi trường đầu tiên được thành lập sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội [...] ba lần vinh dự đón Bác về thăm đã trở thành những dấu son trong lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà trường.

Lần thứ nhất, Người đến thăm Trường vào ngày mồng Một Tết Nguyên đán năm 1958 mà không hề báo trước, giản dị như vị cha già đến thăm con cháu nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc. Sau khi chủ động đi thăm các nơi học tập và sinh hoạt của Trường, Người đã gặp gỡ, nói chuyện thân mật với cán bộ và sinh viên ngay tại nhà ở của sinh viên. Số người được gặp Bác không nhiều vì đa số đã về gia đình ăn Tết, chỉ còn lại những người không có điều kiện như sinh viên miền Nam, miền núi, vùng xa,.. phải ở lại ăn Tết tại Trường.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, Hiệu trưởng Tạ Quang Bưu đón Hồ Chủ tịch và
Chủ tịch Hatsi Lzi , Anbani, thăm Đại học Bách Khoa

Với tình cảm ấm áp của vị cha già đối với con cháu, Người đã hỏi thăm tình hình công tác, sinh hoạt, học tập của cán bộ và sinh viên. Người động viên cán bộ, sinh viên phấn đấu khắc phục khó khăn, gian khổ, đoàn kết thân ái giúp đỡ nhau học tập và công tác. Người đã ân cần căn dặn: “Giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận phải gắn với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, nhà trường phải gắn liền với xã hội”.

Sau ngày Bác Hồ đến thăm, Đảng ủy và chính quyền Nhà trường đã khẩn trương tổ chức cho cán bộ và sinh viên học tập, quán triệt những lời dạy của Bác vì đó là những nguyên lý, phương châm đào tạo giáo dục của Nhà trường xã hội chủ nghĩa. Đồng thời Trường đã phát động một đợt thi đua thực hiện lời Bác dặn, đẩy mạnh các hoạt động giảng dạy, học tập và xây dựng Nhà trường. Khi sinh viên khóa 1 lên năm thứ 3, Trường đứng trước rất nhiều khó khăn: thiếu trang biết bị thí nghiệm; thiếu thày giáo dạy chuyên môn, chuyên ngành, hướng dẫn đồ án môn học và đồ án tốt nghiệp. Vận dụng lời dạy của Bác, lãnh đạo nhà trường đã mạnh dạn đưa sinh viên xuống nhà máy, xí nghiệp,công trường thực tế sản xuất, vừa học vừa làm, làm luận án tốt nghiệp tại chỗ với những đề tài lấy ngay từ thực tiễn sản xuất. Sau hơn 2 năm, 633 sinh viên đã quay trở lại trường nhận bằng tốt nghiệp, cùng khoảng 200 sinh viên khóa 1 khác được cử đi Liên Xô kịp thời bổ sung đội ngũ giáo viên còn thiếu, tạo ra bước phát triển vượt bậc của Nhà trường.

Ngày 17/6/1960, Trường Đại học Bách khoa lại có vinh dự lớn được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm lần thứ hai cùng với Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Anbani do Chủ tịch Hatsi Lzi dẫn đầu. Bác bày tỏ niềm vui mừng khi thấy trường đã có những chuyển biến, tiến bộ rõ rệt, nhiều mặt hoạt động đã đi vào nề nếp.

Sau khi thăm hỏi tình hình học tập và công tác của cán bộ, sinh viên, Người đã căn dặn: “Học để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Thầy trò phải thi đua dạy tốt, học tốt”. Theo lời Bác dặn, toàn trường lại bước vào đợt sinh hoạt chính trị mới với nội dung “rèn luyện đạo đức, phẩm chất, xây dựng động cơ học tập đúng đắn!” Sau khóa 1, trường lại tiếp tục làm lễ tốt nghiệp cho khóa 2, 3. Gần hai nghìn kỹ sư trẻ tràn đầy nhiệt huyết hăng hái lên đường đi bất kỳ đâu, làm bất kỳ việc gì khi đất nước cần đến. Nhiều kỹ sư Bách khoa đã có mặt ở địa bàn miền núi, đi mở rộng Trường Sơn, nhập ngũ vào quân đội. Nhiều cựu sinh viên Bách khoa đã trở thành anh hùng, chiến sỹ thi đua toàn quân, không ít người trong số đó đã ngã xuống, công hiến cả tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của tổ quốc.

Ngày 11/3/1962, Trường Đại học Bách khoa lại có vinh dự lớn được đón Hồ Chủ tịch đến thăm trường lần thứ ba cùng với đoàn đại biểu Vương quốc Lào. Đông đảo cán bộ và sinh viên đã họp mặt trong Hội trường Bát giác để chào mừng Hồ Chủ tịch và đoàn đại biểu nước bạn đến thăm trường. Sau phần chào mừng trọng thể, Bác Hồ đã giành thời gian nói chuyện thân mật với cán bộ và sinh viên. Bác khen thầy trò Nhà trường trong mấy năm qua đã có nhiều cố gắng và tiến bộ. Bác nhắc nhở cán bộ và sinh viên toàn trường phải ra sức phấn đấu hơn nữa, phải làm cho Đại học Bách khoa thực sự vững mạnh, đào tạo thật nhiều cán bộ tốt, giỏi để kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, đi đầu trong công cuộc đấu tranh hoàn thành độc lập thống nhất là xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với đồng bào, chiến sĩ miền Nam anh hùng. Cuối cùng Bác căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa. Phải nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Phải có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể, kỷ luật và ra sức học tập nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật”.

Những lời dặn của Bác đã trở thành phương châm chỉ đạo, giúp Đại học Bách khoa đi đúng hướng trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, vững vàng, tự tin trước mọi thử thách, giữ vững vai trò của một trong những con chim đầu đàn của ngành giáo dục Việt Nam.

Từ một mái trường mà giảng đường, phòng thí nghiệm ban đầu chỉ đơn sơ tranh tre, nứa lá, đội ngũ vỏn vẹn chỉ có 50 giáo viên và hơn 1000 sinh viên, hôm nay, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã trở thành một trong những trường đại học hàng đầu của Việt nam, một trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chật lượng cao được nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Hiện nay, độ ngũ cán bộ của Nhà trường có 2121 người, với 1300 giảng viên, trong đó có 42 Nhà giáo giáo nhân dân và Nhà giáo ưu tú; 222 Giáo sư và Phó giáo sư; 655 Tiến sỹ. Đây là đội ngũ cán bộ có uy tín trong chuyên môn, kinh nghiệm, nhiệt huyết trong hoạt động đào tạo và quản lý, trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã đào tạo cho Tổ quốc hơn 15 vạn kỹ sư, cử nhân, 8000 thạc sỹ và 700 tiến sỹ phục vụ trong Bộ Quốc phòng, công tác ở các ngành kinh tế, công nghiệp, bộ máy quản lý... Nhiều người đã trở thành các nhà khoa học đầu ngành, cán bộ quản lý cao cấp, các tướng lĩnh, các chủ doanh nghiệp và cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước...

-Hai DV-

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

Tiến sĩ Frank Proschan thăm Bảo tàng





Tiến sĩ Frank Proschan là một nhà nhân học/dân tộc học và là một chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO (2006-2015). Các nghiên cứu nhân học của ông đã đưa ông tới nhiều miền đất, từ Hoa Kỳ đến Đông Nam Á, và từ những đỉnh núi cao cho đến những vực sâu của nhiều chế độ quan liêu (Smithsonian Folkways). Năm 2007 ông đã có một bài viết về "Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên và hát giao duyên của người Khơ-mú" tại Hội thảo nhân học tại Bình Châu. Bài viết phân tích những luận điểm của luận án tiến sĩ về "Hát đối đáp nam nữ" của Nguyễn Văn Huyên tại Đại học Sorbonne năm 1934 và so sánh chúng với âm luật và đối luật trong hát đối đáp của người Khơ-mú. Bài viết chỉ ra vai trò của Nguyễn Văn Huyên không chỉ trong việc nghiên cứu dân tộc học/nhân học Việt Nam mà còn đi tiên phong trong nghiên cứu âm nhạc học Việt Nam. Bài viết có thể được tham khảo theo nguồn sau:

Frank Proschan (2010) "Hát đối nam nữ thanh niên Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên và hát giao duyên của người Khơ-Mú", Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, quyển 2, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 598-622.

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

Chuyến đi thực tế của lớp Bồi dưỡng kiến thức Bảo tồn - Bảo tàng

Chuyến đi thực tế của lớp Bồi dưỡng kiến thức Bảo tồn - Bảo tàng, Đại học Văn hóa Hà Nội tại Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên và Bảo tàng Chiến sĩ Cách mạng ngày 24/4/2016.

Bạn Bảo Nam Kyung viết: "Nhân ngày nghỉ, các anh chị từ các Bảo tàng khác nhau đang học lớp bồi dưỡng kiến thức Bảo tồn - Bảo tàng tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã đi thực tế tại Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên và Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt và tù đày.
Cảm ơn các anh chị đã cho em đi thực tế, giúp em học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm bổ ích từ các anh chị sau chuyến đi này. Chúc các anh chị thật nhiều sức khỏe và hoàn thành khóa học thật tốt."


Một vài tấm ảnh do các bạn học viên chụp trong chuyến đi tại Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên:






Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

Để môi trường lễ hội truyền thống không bị méo mó

(Moitruong.net.vn) – Mùa xuân là mùa của các lễ hội được tổ chức khắp nơi trên cả nước với ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, môi trường lễ hội chính là nơi giúp các cộng đồng bảo tồn và phát huy những truyền thống văn hóa một cách tốt nhất. Tuy nhiên, trong thời gian qua, tình trạng “thương mại hóa” kéo theo không ít những hiện tượng thiếu lành mạnh khiến nhiều lễ hội đang mất dần bản sắc. Trước thực tế này, việc khôi phục, bảo tồn và tổ chức tốt các hoạt động lễ hội đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Để tìm hiểu những giá trị văn hóa của các lễ hội, tạp chí Môi trường & Cuộc sống đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Ủy viên Hội đồng di sản văn hoá Quốc gia, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu & phát huy giá trị di sản văn hóa, Hội Di sản văn hóa Việt Nam. 
MT&CS: Xin chào PGS.TS Nguyễn Văn Huy, xin được hỏi ông, mùa lễ hội xuân năm nay ông có tham gia lễ hội nào chưa? Và ông nhận định thế nào về việc khôi phục lễ hội truyền thống hiện nay? 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Rất may mắn trong đầu xuân năm nay tôi đi được rất nhiều lễ hội. Có thể kể như lễ hội đình Lưu Xá, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Ở đây, không khí lễ hội rất nhộn nhịp, tôi thấy các tầng lớp nhân dân từ già đến trẻ, không phân biệt nam hay nữ, từ người dân bình thường đến cán bộ lãnh đạo ở địa phương đều rất hồ hởi, phẩn khởi tham gia lễ hội. Và mọi người rất có niềm tin và sự kính trọng vị thành hoàng làng của mình cho nên họ tổ chức rất quy củ. Hay lễ hội kéo song ở Hương Canh, Vĩnh Phúc. Lễ hội này có tính thi đấu, đối kháng rất căng thẳng nhưng câu chuyện lễ hội rất bình yên, người dân phấn khởi. Thông qua những lễ hội đó, có thể nói rằng lễ hội là một nét sinh hoạt văn hóa rất đẹp ở nông thôn Việt Nam và được giữ từ xưa cho đến hiện nay. Một số lễ hội truyền thống tốt đẹp đó đã được cộng đồng gìn giữ và được nhà nước công nhận là di sản văn hóa quốc gia.
PGS.TS Nguyễn Văn Huy – nguyên Ủy viên Hội đồng di sản văn hoá Quốc gia,
Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu & phát huy giá trị di sản văn hóa 
Về việc khôi phục lễ hội, chúng ta biết rằng, trước đây, có một thời gian dài do chiến tranh, do nhận thức đơn giản, nông cạn, đã có thời người ta cho lễ hội hay hội làng là lạc hậu, lãng phí thời gian, mê tín dị đoan nên bỏ, không cho tổ chức. Nhưng nhờ tư duy đổi mới 30 năm vừa qua mà các hội làng từ “bị lãng quên”  và “không phải là một di sản văn hóa”  thì nay được khôi phục lại. Theo tôi, việc khôi phục lại hội làng chính là một thành quả to lớn của công cuộc 30 năm đổi mới đất nước ta. 
MT&CS: Được biết ông là người có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc, vậy xin ông cho biết ý nghĩa của các lễ hội cũng như là các di sản văn hóa phi vật thể? 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Tôi muốn trở lại dùng từ “HỘI LÀNG” như trước đây thay cho từ lễ hội mới xuất hiện khoảng 30 năm gần đây. Gọi là hội làng sẽ gần gũi, thân thiết hơn khái niệm lễ hội nhiều. Khái niệm lễ hội bây giờ bị lạm dụng quá, cái gì cũng lễ hội cả, thành ra nhận thức lẫn lộn. Chúng ta biết rằng, hội làng có từ rất lâu và đâu đâu cũng có hội từ làng xóm của người Kinh ở đồng bằng cho đến các làng bản ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Người ta có thể gọi là hội làng, hội đình hay lễ cúng bản, lễ cúng bến nước nhưng tất cả đều nằm trong phạm trù hội làng. Và với phạm trù này, niềm tin của con người, của cộng đồng thể hiện rất rõ, đó là một niềm tin tâm linh thành kính với các vị thánh, vị thần bảo hộ cho làng.  Khi tổ chức và thực hành hội làng thì những phong tục tập quán, những nghi lễ, tập tục từ xưa để lại chính là một phương thức củng cố cách tổ chức xã hội, làm cho xã hội đi vào nền nếp, kỷ luật, kỷ cương; từ kính trọng vị thành hoàng đến tôn trọng các quan hệ trên dưới trong làng, trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ gia đình, làng xóm, bạn hữu… Ở một phương hiện nào đó, hội làng chính là một trường học để rèn luyện những con người biết cách chung sống với nhau trong một cộng đồng. Thế hệ trước rèn dũa thế hệ sau vì chính mình, vì cộng đồng của mình và vì con cháu trong tương lai. Đó chính là giá trị của hội làng, của những lễ hội truyền thống cũng như là các di sản văn hóa phi vật thể. 
MT&CS: Thưa ông thời gian gần đây, chúng ta thấy rất nhiều lễ hội đang bị thương mại hóa và những hành vi không đẹp diễn ra nhiều hơn trong lễ hội. Trước tình trạng một địa phương đã tổ chức thêm nhiều phiên bản lễ hội dân gian đã được công nhận để kinh doanh kiếm lời, ví dụ như lễ hội chọi trâu hiện có 10 hội chọi trâu ở các nơi, vậy theo ông chúng ta nên ứng xử với vấn đề này như thế nào? 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Vừa qua Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có thông tư không cho phép tổ chức những lễ hội mới như lễ hội chọi trâu ở một số địa phương: Phúc Thọ (Hà Nội), Bảo Thắng (Lao Cai), Phú Sơn (Bắc Ninh). Những lễ hội này được cho là có tính thương mại, cờ bạc, bán thịt giá cao… Đây đúng là những lễ hội “nhái lại” hội chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Hai loại lễ hội này khác hẳn nhau. Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn, vốn là một hội làng truyền thống có từ lâu đời. Không thể đánh đồng chúng với nhau, cứ thấy lễ hội là giống nhau, là cho vào một rọ. Việc truyên truyền ý nghĩa của các lễ hội này như nhau, như một lễ hội truyền thống là không đúng. Cho nên việc dừng không cho phép tổ chức những lễ hội mới này trong thời điểm hiện nay là hợp lý.
Lễ hội chọi trâu ở huyện Phúc Thọ – Hà Nội
Tuy nhiên, tôi nghĩ cũng có những cách xử lý khác cần nghiên cứu cho thấu đáo. Chẳng hạn có thể coi thi chọi trâu là một hoạt động dịch vụ thể thao mới nhằm thu hút khách du lịch nội địa hay quốc tế. Ý nghĩa thuần túy thể thao, không gắn vào đó yếu tố tâm linh. Chọi trâu cũng giống như đua ngựa, đấu bò tót… Cách tổ chức phải mới, có kỷ cương, có luật chơi mới. Chẳng hạn:  một là tuyệt đối không được giết thịt dù là những con trâu thắng hay thua, phải biết yêu thương chúng, chăm sóc chúng cho mùa sau; hai là cách hạn chế cờ bạc, cá cược trong những cuộc đua này hoặc tổ chức như thế nào cho khoa học, hợp lý; ba là, đây là hoạt động thể thao, kinh doanh thì phải đóng thuế, các loại thuế… Tóm lại cần phải nghiên cứu kỹ câu chuyện này để ứng xử với những cái mới xuất hiện cho đúng, cho hợp lý. 
MT&CS: Dưới góc độ nhà nghiên cứu nhân học, theo ông cơ quan quản lý nhà nước làm thế nào để giữ được nét đẹp truyền thống của dân tộc? 
PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Tôi nghĩ rằng các lễ hội đặc biệt là hội làng có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân ở làng quê cũng như miền núi. Cho nên, ngành văn hóa cũng như các ngành, các cấp làm thế nào để khuyến khích tổ chức cho thật tốt. Không vì con số thống kê 7000-8000 hội làng mà sợ, mà ngao ngán. 
Nhiều cộng đồng rất nghèo, nhà nước có thể giúp đỡ, khuyến khích, hỗ trợ cho dân làng các trang thiết bị cho phù hợp, trùng tu, tôn tạo các không gian tổ chức hội. Con người là yếu tố quan trọng nhất. Hãy để cho chủ thể văn hóa tự tổ chức hội làng của mình, đừng can thiệp sâu và quy định quá nhiều. 
Và điều quan trọng, hãy gắng giữ quy mô, mức độ các hội ở cấp độ  làng, cấp độ xã, đừng cố nâng cấp thành hội cấp huyện, tỉnh hay khu vực… để thu hút du lịch hay khuyếch trương chính trị. Chúng ta làm như thế sẽ làm mất đi bản chất của các hội đó, làm ảnh hưởng trực tiếp chủ thể tham gia lễ hội. Việc nâng cấp hội làng chỉ nên tính toán ở một vài điểm cần thiết không nên đại trà, phải giữ lại hội làng cho các chủ thể làm việc và sống ở làng. Làm như vậy, tôi nghĩ các hội làng không bị biến tướng, không bị méo mó và phản ánh đúng nhu cầu của người dân.
MT&CS: Xin được cảm ơn những chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Văn Huy